Bài 19+ 20: Từ sau Trưng Vương đến Lý Nam Đế (giữa thế kỉ I – giữa thế kỉ VI) – Lịch sử 6

Từ sau thời Trưng Vương nước ta có rơi vào sự khống chế của nhà Hán. Nhân dân ta vô cùng khổ cực, chịu sự đọa đầy và những luật lệ hà khắc. Tiếp đến năm 248 nổ ra cuộc khởi nghĩa Bà Triệu. Tình hình kinh tế – xã hội có nhiều thay đổi.

tu sau trung vuong
Nhân dân Âu Lạc phải lao dịch cho nhà Hán

A. Tìm hiểu lý thuyết

1. Chế độ cai trị của các triều đại phong kiến phương Bắc đối với nước ta từ thế kỷ I đến thế Kỷ VI

– Thế kỷ I, Châu Giao gồm 9 quận ( 6 quận Trung Quốc và 3 quận Âu Lạc )

– Thế kỷ III: Nhà Ngô tách Châu Giao thành Quảng Châu (Trung Quốc), Giao Châu (Âu Lạc cũ gồm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam).

– Nhà Hán trực tiếp cai quản các huyện.

– Nhân dân phải đóng nhiều thứ thuế.Lao dịch, cống nạp nặng nề . Buộc dân ta phải học chữ Hán, tuân theo luật pháp Hán để đồng hoá dân tộc ta.

2. Tình hình kinh tế nước ta từ thế kỷ I – VI có gì thay đổi?

a. Nông nghiệp:

– Công cụ bằng sắt phát triển

– Cấy lúa 2 vụ, dùng trâu bò cày bừa

– Có đê phòng lụt

– Cây trồng đủ loại, chăn nuôi phong phú .

b. Thủ công nghiệp:

– Rèn sắt, làm gốm, tráng men..

– Nghế sắt phát triển.

– Nhà Hán nắm độc quyền về sắt , công cụ ,vũ khí nhắm hạn chế sự chống đối nhà Hán của nhân dân ta và hạn chế sản xuất.

c. Thương nghiệp:

– Trong nước hàng hóa xuất hiện ở các chợ làng.

– Thương nhân nước ngoài buôn bán ở Luy Lâu , Long Biên (Trung Quốc, Ấn Độ)

– Nhà Hán nắm độc quyền ngoại thương.

tu sau trung vuong 1
Hình Bà Triệu

3. Những chuyển biến về xã hội và văn hóa nước ta các thế kỷ I – VI:

a. Xã hội:

Thời Văn Lang – Âu Lạc

Thời kỳ bị đô hộ
         Vua Quan lại đô hộ
       Quí tộc Hào trưởng Việt Địa chủ Hán
Nông dân công xã Nông dân công xã
Nông dân lệ thụôc
Nô tì

Nô tì

 

Nhận xét :

– Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc : xã hội phân hóa thành 3 tầng lớp: Quý tộc, nông dân công xã, nô tì. Xã hội có sự phân biệt giàu, nghèo, sang hèn.

– Thời kỳ bị đô hộ: quan lại đô hộ, người Hán nắm quyền thống trị.

– Địa chủ Hán: cướp đất của dân ngày càng giàu lên và có quyền lực.

– Địa chủ Việt và quý tộc Âu Lạc bị mất quyền thống trị trở thành hào trưởng địa phương nhưng vẫn bị quan lại và địa chủ Hán chèn ép. Họ là lực lượng lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh chống phong kiến phương Bắc

– Nông dân công xã bị chia thành nông dân công xã và nông dân lệ thuộc

-Nô tì là tầng lớp thấp nhất.

– Người Hán nắm trực tiếp mọi quyền lực đến các huyện.

b. Văn hóa:

– Mở trường dạy chữ Hán ở các quận.

– Chúng đưa Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo và những luật lệ, phong tục của người Hán vào nước ta.

– Muốn đồng hóa dân tộc ta. Nhưng nhân dân ta vẫn nói tiếng Việt, sống theo phong tục Việt…

4. Cuộc khởi nghĩa bà Triệu (248)

*Nguyên nhân: do chính sách cai trị tàn bạo của nhà Ngô …

* Diễn biến:

-Triệu thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt tập hợp nghĩa sĩ trên núi Nưa, mài gươm luyện võ, chuẩn bị khởi nghĩa .

– Năm 248, khởi nghĩa bùng nổ ở Phú Điền (Hậu Lộc, Thanh Hóa), đã đánh phá các thành ấp của quân Ngô tại Cửu Chân, rồi khắp Châu Giao

– Toàn thể Giao Châu đều chấn động.

– Lục Dận đem 6000 quân vào Giao Châu, vừa đánh, vừa mua chuộc, chia rẽ nghĩa quân.

* Kết quả: cuộc khởi nghĩa bị đàn áp

* Thất bại do lực lượng nhà Ngô rất mạnh và có nhiều mưu kế hiểm độc.

* Ý nghĩa: Tiêu biểu cho ý chí bất khuất , quyết giành lại độc lập của dân tộc ta.

tu sau trung vuong 2
Đền Bà Triệu (Thanh Hóa)- đã được trùng tu.

B. Bài tập

Câu 1: Em hãy cho biết miền đất Âu Lạc trước đây bao gồm những quân nào của Châu Giao ?

Miền đất Âu Lạc cũ bao gồm ba quận : Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.

Câu 2: Em có nhận xét gì về sự thay đổi của miền đất Âu Lạc dưới sự cai trị của triều đại phong kiến Phương Bắc?

Nhận xét gì về sự thay đổi này : Loại trừ người Việt ra khỏi bộ máy chính quyền, siết chặt chế độ đô hộ nhằm vĩnh viễn xóa bỏ nước ta.

Câu 3: Nhận xét gì về chính sách bóc lột của triều đại phong kiến phương Bắc đối với nước ta?

Nhận xét gì về chính sách bóc lột : vô cùng tham lam, tàn bạo bằng các loại thuế và cống nạp. Cống nạp thể hiện ở hai khía cạnh : vơ vét cùng kiệt các sản vật quý hiếm và kìm hãm sự phát triển nhân tài.

Câu 4: Tình hình kinh tế nước ta từ thế kỉ I đến thế kỉ VI có gì thay đổi ?

Chính quyền đô hộ Hán nắm độc quyền về sắt và đặt các chức quan để kiểm soát gắt gao việc khai thác, chế tạo và mua bán đồ sắt.

Mặc dù bị hạn chế, nhưng nghề rèn sắt ở Giao Châu vẫn phát triển.

Trong các di chỉ, mộ cổ thuộc thế kỉ I – VI, chúng ta đã tìm được nhiều đồ sắt. Về công cụ, có rìu, mai, cuốc, dao… ; về vũ khí, có kiếm, giáo, kích, lao…; về dụng cụ, có nồi gang, chân đèn và rất nhiều đinh sắt… Đến thế kỉ III, nhân dân ven biển đã dùng lưới sắt để khai thác san hô, ở miền Nam, người dân còn biết bịt cựa gà chọi bằng sắt.

Từ thế kỉ I, ở Giao Châu, việc cày, bừa do trâu, bò kéo đã phổ biến.

Theo Giao Châu kí, ở huyện Phong Khê (miền Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Đông Anh – Hà Nội) có đê phòng lụt. sử cũ cũng nói Giao Châu có nhiều kênh, ngòi. Người ta đã biết trồng hai vụ lúa trong một năm : vụ chiêm và vụ mùa, lúa rất tốt.

Nông thôn Giao Châu có đủ loại cây trồng và chăn nuôi rất phong phú. Sách Nam phương thảo mộc trạng nói đến một kĩ thuật trồng cam rất đặc biệt của người châu Giao : để chống sâu bọ châm đục thân cây cam, người ta nuôi loại kiến vàng, cho làm tổ ngay trên cành cam… ; đó là kĩ thuật “dùng côn trùng diệt côn trùng”.

Bên cạnh nghề rèn sắt, nghề gốm cổ truyền cũng rất phát triển. Người ta đã biết tráng men và vẽ trang trí trên đồ gốm rồi mới đem nung, sản phẩm đồ gốm ngày càng phong phú về chủng loại, như nồi, vò, bình, bát, đĩa, ấm chén, gạch, ngói…, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và xây dựng nhà cửa.

Cùng với các loại vải bông, vải gai, vải tơ…, người ta còn dùng tơ tre, tơ chuối để dệt thành vải. vải tơ chuối là đặc sản của miền đất Âu Lạc cũ, các nhà sử học gọi là “vải Giao Chỉ”.

Các sản phẩm nông nghiệp và hàng thủ công không bị sung làm đồ cống nạp mà được đem trao đổi ở các chợ làng, ở những nơi tập trung đông dân cư như Luy Láu, Long Biên…, có cả người Trung Quốc, Gia-va, Ấn Độ… đến trao đổi buôn bán. Chính quyền đô hộ giữ độc quyền ngoại thương.

Câu 5: Những chi tiết chứng tỏ nền nông nghiệp Giao Châu vẫn phát triển

Những chi tiết chứng tỏ nền nông nghiệp Giao Châu vẫn phát triển :

– Nghề rèn sắt ở Giao Châu vẫn phát triển, các công cụ như rìu, mai, cuốc, dao… ; vũ khí như kiếm, giáo, mác… ; đồ dùng như nồi gang, chân đèn… làm bằng sắt được dùng phổ biến.

– Biết đắp đê phòng lụt và trồng lúa một năm hai vụ.

– Trồng trọt và chăn nuôi phát triển.

Câu 6: Trong các thế kỉ I — VI, chế độ cai trị của các triều đại phương Bắc đối với nước ta có gì thay đổi ?

Trong các thế kỉ I – VI, chế độ cai trị của các triều đại phương Bắc đối với nước ta :

– Nhà Ngô chia Châu Giao thành Quảng Châu và Giao Châu (miền đất Âu Lạc cũ).

– Loại trừ người Việt khỏi bộ máy chính quyền, người Hán làm Huyện lệnh, trực tiếp cai quản cấp huyện.

– Tăng cường chính sách bóc lột tàn bạo bằng các loại thuế, lao dịch, đặc biệt là chế độ nộp cống rất nặng nề.

– Đưa nhiều người Hán sang ở, bắt dân ta phải theo pháp luật, phong tục tập quán của người Hán, học tiếng Hán.

– Kinh tế bị kìm hãm, bọn đô hộ độc quyền về sắt, ngoại thương.

Câu 7: Những biểu hiện về sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp nước ta từ thế kỉ I – thế kỉ VI ?

Những biểu hiện về sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp nước ta :

– Nghề gốm : kĩ thuật tráng men ngày càng tinh xảo ; sản phẩm đủ loại như nồi, vò, bình, bát, ấm chén, gạch, ngói…

– Nghề dệt : ngoài các loại vải bông, vải gai, vải tơ… người ta còn dùng tơ tre, tơ chuối để dệt.

– Sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp được mua bán trao đổi ở chợ làng.

Ở Luy Lâu, Long Biên có cả người Trung Quốc, Gia-va, Ấn Độ… đến tham gia buôn bán.

Câu 8: Những biến chuyển về xã hội và văn hóa nước ta ở các thế kỉ I – VI ?

tu sau trung vuong 3

Chính quyền đô hộ mở một số trường học dạy chữ Hán tại các quận. Cùng với việc dạy học, Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo và những luật lệ, phong tục của người Hán cũng được du nhập vào nước ta.

Nhân dân ta ở trong các làng xã vẫn sử dụng tiếng nói của tổ tiên và sinh hoạt theo nếp sống riêng với những phong tục cổ truyền như xăm mình, nhuộm răng, ăn trầu, làm bánh giầy, bánh chưng…

Trải qua nhiều thế kỉ tiếp xúc và giao dịch, nhân dân ta đã học được chữ Hán nhưng vận dụng theo cách đọc của mình.

Một số chuyên mục hay của Lịch sử lớp 6:

Bài viết trên chúng tôi đã tổng hợp từ bài học 19 và 20 trong SGK Lịch sử lớp 6, từ sau Trưng Vương đến Lý Nam Đế (giữa thế kỉ I – giữa thế kỉ VI). Giai đoạn này dân tộc ta diễn ra nhiều biến cố lịch sử. Những thông tin trên hy vọng sẽ giúp các bạn học tập tốt!

 

 

 

Bài viết liên quan