Bài 31: Việt Nam trong năm đầu sau đại thắng xuân 1975 – Lịch sử 9

Việt Nam trong năm đầu sau đại thắng xuân 1975, diễn biến tình hình hai miền Nam, Bắc có sự giống và khác nhau. Hân hoan trong niềm vui chiến thắng lớn của dân tộc nhưng không quên nhiệm vụ khắc phục hậu quả sau chiến tranh. Đảng ta đã có những chỉ đạo sát sao trong công cuộc xây dựng xã hội thời bình này.

A. Tìm hiểu lý thuyết

viet nam trong nhung nam dau dai thang
Lược đồ hành chính nước Công Hòa Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam

I. Tình hình 2 miền Bắc – Nam sau đại thắng mùa xuân 1975.

* Miền Bắc:

+ Thuận lợi:Từ 1954 đến 1975 ,CM XHCN miền Bắc đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện. Bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH.

+ Khó khăn: Hậu quả chiến tranh nặng nề.Nhiều làng mạc, ruộng đồng bị tàn phá.50 vạn ha đất bị bỏ hoang.1 triệu ha rừng bị chất độc và bom đạn.Hàng triệu người thất nghiệp.

* Miền Nam:

+ Thuận lợi:Miền Nam hoàn toàn giải phóng.Chế độ thực dân mới và chính quyền Sài gòn hoàn toàn sụp đổ.

+ Khó khăn: Kinh tế miền Nam phát triển theo hướng TBCN, nhưng vẫn là kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, phân tán, mất cân đối, lệ thuộc bên ngoài. Nhiều tệ nạn xã hội còn tồn tại.

Tóm lại :

– Chấm dứt tình trạng chia cắt .

– Hai miền Nam – Bắc đều phải khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế để đi lên CNXH.- Mở ra kỷ nguyên mới :độc lập – tự do- chủ nghĩa xã hội

 

viet nam trong nhung nam dau dai thang 1
Đoàn tàu Thống Nhất

II. Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế – văn hóa ở 2 miền đất nước.

1. Ở Miền Bắc:

– Giữa 1976 căn bản hoàn thành và khắc phục kinh tế.

– Thực hiện kế hoạch nhà nước 6 tháng cuối 1975 và 6 tháng đầu 1976 có nhiều tiến bộ.

– Làm trọn nghĩa vụ hậu phương đối với cả nước với Lào và Cam pu chia trong tình hình mới.

2. Miền Nam:

-Tiếp quản vùng mới giải phóng.

– Chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng nhanh chóng được thiết lập.

– Hàng triệu đồng bào được hồi hương.

– Xóa bỏ bóc lột phong kiến.

– Quốc hữu hóa ngân hàng.Phát hành tiền mới.

-Khôi phục nông nghiệp, công nghiệp.

– Các hoạt động giáo dục văn hóa, xã hội được tiến hành.

viet nam trong nhung nam dau dai thang 2
Quốc Huy của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam

III. Hoàn thành thống nhất đất nước (1975 – 1976).

– Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân cả nước.

-25-4-1976: Tổng tuyển cử trong cả nước .

– Kì họp lần 1 của Quốc hội khóa VI đã quyết định (24-6 đến 3-7-1976)

+ Chính sách đối nội và đối ngoại của nước VN thống nhất.

+ Đổi tên nước là : Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ( từ ngày 2-7-1976)

+ Quyết định: Quốc huy, Quốc kì, Quốc ca.

+ Thủ đô: Hà Nội.

+ Thành phố Sài gòn – Gia Định đổi là thành phố Hồ Chí Minh .

+ Bầu ra các cơ quan lãnh đạo và chức vụ cao nhất của nhà nước.

+ Bầu Ban Dự thảo Hiến pháp.

– Ở địa phương:

+ Tổ chức thành 3 cấp: Cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương . Cấp huyện và tương đương. Cấp xã và tương đương.

Như vậy kì họp của Quốc hội khóa VI đã hoàn thành thống nhất nhà nước về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa – xã hội sẽ gắn liền với việc xây dựng CNXH trong cả nước.

viet nam trong nhung nam dau dai thang 3
Bài hát Tiến quân ca của Văn Cao

B. Bài tập

Câu 1: Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, cách mạng ở hai miền Nam – Bắc đã có những thuận lợi và khó khăn gì ?

Thuận lợi: Đại thắng Xuân 1975 đã đưa đất nước ta bước vào kỉ nguyên độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trải qua hơn hai mươi năm (1954 – 1975) tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện, đã xây dựng được cơ sở vật chất – kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội.

Hạn chế : Những cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ kéo dài và hết sức ác liệt đã tàn phá nặng nề gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc, làm cho quá trình tiến lên của đất nước bị chậm lại nhiều năm.

Nhiều làng mạc, đồng ruộng bị tàn phá. Nửa triệu hécta ruộng đất bị bỏ hoang. Một triệu héc ta ruộng bị chất độc hóa học và bom đạn cày xới. Vô số bom mìn còn vùi lấp trên các cánh đồng, ruộng vườn, nơi cư trú của nhân dân. Đội ngũ thất nghiệp có tới hàng triệu người. Số người mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trong cư dân.

Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng chế độ thực dân mới của Mĩ cùng bộ máy chính quyền Sài Gòn ở trung ương bị sụp đổ, nhưng cơ sở của chúng ở địa phương cùng bao di hại xã hội vẫn còn tồn tại.

Trong chừng mực nhất định, miền Nam có nền kinh tế phát triển theo hướng tư bản, song nền kinh tế nông nghiệp vẫn còn lạc hậu, sản xuất nhỏ và phân tán là phổ biến, phát triển mất cân đối, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ từ bên ngoài.

Câu 2: Đảng và chính quyền cách mạng ở miền Nam đã có những chủ trương và biện pháp gì nhằm thực hiện các nhiệm vụ cấp bách trong năm đầu sau chiến tranh chống Mĩ thắng lợi ?

Để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách trong năm đầu sau kháng chiến chống Mĩ thắng lợi, Đảng và chính quyền cách mạng ở miền Nam đã có những chủ trương và biện pháp tích cực :

– Chính trị : công tác tiếp quản từ thành thị đến nông thôn, đất liền, hải đảo, căn cứ quân sự, cơ sở sản xuất, hành chính, văn hóa được tiến hành khẩn trương và đạt được những kết quả tốt.

Ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và các vùng mới giải phóng, chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng các cấp nhanh chóng được thành lập. Đồng thời đưa hàng triệu đồng bào trong thời gian chiến tranh bị dồn vào các “ấp chiến lược” hay bỏ chạy vào thành phố, không có việc làm được hồi hương, chuyển về nông thôn tham gia sản xuất hoặc đi xây dựng vùng kinh tế mới.

– Kinh tế : tịch thu toàn bộ tài sản và ruộng đất của bọn phản động trốn ra nước ngoài, xóa bỏ bóc lột phong kiến, điểu chinh ruộng đất trong nội bộ nông dân, quốc hữu hóa ngân hàng, thay đổi đồng tiền của chính quyền Sài Gòn bằng đồng tiền của chính quyền cách mạng, chú trọng khôi phục sản xuất nông nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp.

– Văn hóa, giáo dục, y tế : sử dụng mạng thông tin phát thanh truyền hình, báo chí một cách có hiệu quả. Nghiêm cấm, bài trừ các tệ nạn xã hội : cờ bạc, rượu chè, ma túy… Đẩy mạnh phát triển văn hóa – giáo dục: xóa bỏ trường tư, thành lập trường công, xóa nạn mù chữ.

Đây chính là những nhiệm vụ ban đầu nhưng có ý nghĩa quan trọng đến việc hoàn thành thống nhất đất nước.

Câu 3: Quốc hội khóa VI, kì họp thứ nhất đã có những quyết định gì ?

Quốc hội khóa VI, kì họp thứ nhất đã có những quyết định quan trọng :

– Thông qua chính sách đối nội và đối ngoại của nước Việt Nam thống nhất. Quyết định lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ ngày 2-7-1976), quyết định Quốc huy, Quốc kì là cờ đỏ sao vàng. Quốc ca là bài Tiến quân ca, Thủ đô là Hà Nội, thành phố Sài Gòn — Gia Định đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh.

– Quốc hội bầu ra các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bầu ra Ban dự thảo Hiến pháp.

– Quốc hội quyết định tổ chức thành ba cấp chính quyền : cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ; cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương, ờ mỗi cấp chính quyền là ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân.

Câu 4: Việc thực hiện những nhiệm vụ cấp bách trước mắt và hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước trong năm đầu sau kháng chiến chống Mĩ thắng lợi có ý nghĩa gì ?

+ Thể hiện ý chí, nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam là xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, độc lập và xã hội chủ nghĩa.

+ Tạo cơ sở để hoàn thành thống nhất đất nước trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội.

+ Tạo điều kiện phát huy sức mạnh toàn diện của đất nước để xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, tăng cường khả năng quốc phòng – an ninh và mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới.

Một số chuyên mục của Lịch sử 9:

Việc thực hiện những nhiệm vụ cấp bách trước mắt và hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước trong năm đầu sau kháng chiến chống Mĩ thắng lợi có ý nghĩa vô cùng to lớn. Từ đây lịch sử nước nhà bước sang một chương mới, xây dựng Xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế, xã hội trong thời bình. Chúc các bạn học tập tốt !

 

Bài viết liên quan