Câu hỏi ôn tập bài 29: Cả nước chiến đấu chống Mĩ cứu nước ( 1965-1973) (Phần 3) – Lịch sử 9

CÂU HỎI ÔN TẬP PHẦN 3

Câu hỏi 28: Mĩ thực hiện thủ đoạn gì trong việc tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” (1969 – 1973)?

Trả lời câu hỏi:

– Quân đội Sài Gòn còn được Mĩ sử dụng như lực lượng xung kích & Đông Dương trong các cuộc hành quân mở rộng xâm lược Cam-pu-chia (1970), tăng cường chiến tranh ở Lào (1971), thực hiện âm mưu “Dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương”.

– Mở rộng chiến tranh không quân và hải quân phá hoại miền Bắc.

– Đẩy mạnh hoạt động ngoại giao chia rẽ các lực lượng cách mạng, cô lập cách mạng Việt Nam với cách mạng các nước trên thế giới.

Câu hỏi 29: So sánh điểm giống và khác nhau giữa hai chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 -1968) và “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 11973) của Mĩ.

Trả lời câu hỏi:

* Giống nhau

-Đều là chiến tranh xâm lược thực dân mới, nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mĩ.

-Đều tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc.

* Khác nhau

– Về lực lượng tham gia chiến tranh: “Chiến tranh cục bộ” được tiến hành bằng quân Mĩ, quân đồng minh và quân đội Sài Gòn ở miền Nam. “Việt Nam hóa chiến tranh” được tiến hành bằng quân đội tay sai ở miền Nam là chủ yếu, quân Mĩ phối hợp bằng hỏa lực và không quân.

– Về quy mô chiến tranh: “Chiến tranh cục bộ” được tiến hành ở miền Nam và mở rộng ra cả miền Bắc bằng chiến tranh phá hoại, “Việt Nam hóa chiến tranh” được tiến hành ở miền Nam và mở rộng ra cả miền Bắc bằng chiến tranh phá hoại, đồng thời còn tiến hành xâm lược Cam-pu-chia và Lào, mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương.

– Về vai trò của Mĩ: trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mĩ trực tiếp chiến đấu, vừa làm “cố vấn” chỉ huy. Trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mĩ vừa phối hợp chiến đấu, vừa làm “cố vấn” chỉ huy.

Câu hỏi 30: Nhân dân ba nước Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia đã giành được những thắng lợi chung nào trên các mặt trận quân sự và chính trị trong chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 – 1973)?

Trả lời câu hỏi :

Trong hai năm 1970 – 1971, nhân dân ta cùng với nhân dân hai nước Cam-pu-chia và Lào đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên mặt trận quân sự và chính trị.

* Trên mặt trận chính trị:

– Trong hai ngày 24 và 25-4-1970, Hội nghị cấp cao ba nước Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia họp để biểu thị quyết tâm của nhân dân ba nước đoàn kết chiến đấu, chống đế quốc Mĩ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương.

* Trên mặt trận quân sự

-Từ ngày 30- 4 đến ngày 30-6-1970, quân đội Việt Nam có sự phối hợp của quân dân Cam-pu-chia, đã đập tan cuộc hành quân xâm lược Cam-pu-chia của 10 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn với 4,5 triệu dân.

-Từ ngày 12-2 đến ngày 23-3-1971, quân đội Việt Nam có sự phối hợp của quân dân Lào đã đập tan cuộc hành quân mang tên “Lam Sơn – 719″ nhằm chiếm giữ Đường 9 – Nam Lào của 4,5 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn, quét hết quân Mĩ – quân đội Sài Gòn khỏi Đường 9 – Nam Lào, giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương.

Câu hỏi 31: Đế quốc Mĩ đã dùng thủ đoạn gì nhằm phá vỡ liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc Việt Nam — Lào — Cam-pu-chia từ năm 1969 đến năm 1973? Kết quả ra sao?

Trả lời câu hỏi:

– Thủ đoạn của Mĩ nhằm phá vỡ liên minh đoàn kết chiến dấu giữa ba dân tộc ở Đông Dương: sử dụng quân đội Sài Gòn như lực lượng xung kích ở Đông Dương, mở rộng xâm lược Cam-pu-chia, tăng cường chiến tranh ở Lào, thực hiện âm mưu “dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương”

– Kết quả: Mĩ đã thất bại trước tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương.

Câu hỏi 32: Phong trào đấu tranh chính trị và chống “bình định” của nhân dân miền Nam trong chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” như thế nào?

Trả lời câu hỏi:

– Ở khắp các thành thị, phong trào của các tầng lớp nhân dân diễn ra liên tục. Đặc biệt ở Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, phong trào học sinh, sinh viên rầm rộ đã thu hút đông đảo giới trẻ tham gia.

– Tại các vùng nông thôn, đồng bằng, rừng núi, ven thị đều có phong trào của quần chúng nổi dậy chống “bình định”, phá “ấp chiến lược” của địch.

Câu hỏi 33: Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 diễn ra trong bối cảnh lịch sử nào?

Trả lời câu hỏi:

– Sau ba năm 1969, 1970, 1971, quân dân ta giành được một loạt thắng lợi trên các mặt trận quân sự chính trị, ngoại giao.

– Năm 1972 là năm bầu cử Tổng Thống ở Mĩ, là năm nảy sinh nhiều mâu thuẫn qua cuộc tranh cử vào Nhà Trắng mà ta có thể tận dụng thời cơ.

– Lợi dụng địch chủ quan sơ hở do phán đoán sai thời gian, quy mô và hướng tấn công của ta trong năm 1972, quân ta bắt đầu tiến công chiến lược theo đúng kế hoạch của Quân ủy trung ương đề ra.

Câu hỏi 34: Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã diễn ra như thế nào? Kết quả?

Trả lời câu hỏi:

– Từ ngày 30-3-1972, quân ta mở cuộc tiến công chiến lược đánh vào Quảng Trị, lấy Quảng Trị làm hướng tiến công chủ yếu, rồi phát triển rộng ra khắp chiến trường miền Nam, kéo dài trong năm 1972.

– Quân ta tiến công địch với cường độ mạnh, quy mô lớn, trên hầu khắp các địa bàn chiến lược quan trọng. Chỉ trong thời gian ngắn (đến cuối tháng 6 – 1972), quân ta chọc thủng ba phòng tuyến mạnh nhất của địch là Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20 vạn địch, giải phóng những vùng đất đai rộng lớn và đông dân.

Câu hỏi 35: Ý nghĩa lịch sử của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ?

Trả lời câu hỏi:

Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã giáng đòn nặng nề vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc Mĩ tuyên bô” “Mĩ hóa” trở lại chiến tranh xâm lược, thừa nhận sự thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Câu hỏi 36: Nhiệm vụ của miền Bắc trong thời kì mới (1969 — 1973) là gì?

Trả lời câu hỏi:

Nhiệm vụ của miền Bắc trong thời kì mới từ năm 1969 là:

– Khắc phục khó khăn do hậu quả nặng nề chiến tranh phá hoại của Mĩ gây ra.

– Thực hiện ba cuộc vận động chính trị lớn: lao động sản xuất, phát huy dân chủ và tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng xã viên ở nông thôn, nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh. Ba cuộc vận động trên nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế – văn hóa.

Câu hỏi 37: Miền Bắc đạt được những thành tựu gì trong việc thực hiện nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế văn hóa?

Trả lời câu hỏi:

* Thành tựu kinh tế

Nông nghiệp: Chăn nuôi được đưa lên thành ngành chính. Các hợp tác xã tích cực áp dụng tiến bộ khoa học – kĩ thuật và nhiều biện pháp thâm canh tăng vụ. Nhờ đó, nhiều hợp tác xã đạt được mục tiêu 5 tấn thóc, một số hợp tác xã đạt từ 6 đến 7 tấn thóc trên 1 héc ta gieo trồng. Sản lượng lương thực năm 1970 tăng hơn 60 vạn tấn so với năm 1968.

Công nghiệp, nhiều cơ sở công nghiệp được khôi phục nhanh chóng. Nhiều công trình được đưa vào hoạt động như Nhà máy thủy điện Thác Bà (Yên Bái). Một số ngành công nghiệp quan trọng như điện, than, cơ khí, vật liệu xây dựng… đều có bước phát triển. Giá trị sản lượng công nghiệp năm 1971 tăng 142% so với năm 1968.

– Về giao thông vận tải, các tuyến giao thông chiến lược bị phá hoại nặng nề được khẩn trương khôi phục.

– Văn hóa, giáo dục, y tế nhanh chóng được khôi phục và phát triển. Đời sống nhân dân ổn định. Một số khó khăn do sai lầm khuyết điểm của ta trong chỉ đạo, quản lí kinh tế và xã hội bước đầu được khắc phục.

Câu hỏi 38: Ý đồ của Mĩ khi tiến hành cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc lần thứ hai là gì?

Trả lời câu hỏi:

Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc lần thứ hai là nhằm để đối phó với cuộc tiến công chiến lược của quân dân miền Nam và hỗ trợ cho chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang có nguy cơ phá sản, đồng thời còn nhằm ý đồ tạo thế mạnh cho cuộc đàm phán ở Hội nghị Pa-ri.

Câu hỏi 39: Nêu điểm giống nhau và khác nhau giữa cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mĩ ?

Trả lời câu hỏi:

*Giống nhau:

Trong cả hai lần chiến tranh phá hoại miền Bắc, Mĩ đều có âm mưu cơ bản là sử dụng không quân, hải quân bắn phá miền Bắc để ngăn chặn sự tiếp tế của miền Bắc cho miền Nam, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

* Khác nhau:

Chiến tranh phá hoại lần thứ nhất thời gian kéo dài hơn 4 năm (1964-1968). Những cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mĩ có thời gian ngắn hơn (chỉ năm 1972) nhưng quy mô lớn hơn, tốc độ nhanh hơn, cường độ mạnh hơn, hành động táo bạo hơn, sử dụng máy bay hiện đại hơn (Fill, B52).

Câu hỏi 40: Quân dân miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mĩ như thế nào?

Trả lời câu hỏi:

– Ngày 16-4-1972, Ních-Xơn (Nixon) tuyên bố chính thức cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc (lần thứ hai).

– Nhờ được chuẩn bị trước và với tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu, miền Bắc đã có thể chủ động, kịp thời chống trả dịch ngay từ trận đầu.

– Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, các hoạt động sản xuất, xây dựng ở miền Bắc vẫn không bị ngừng trệ, giao thông vận tải được bảo đảm thông suốt, các hoạt động khác như văn hóa, giáo dục, y tế được duy trì và phát triển.

Câu hỏi 41; Quân dân miền Bắc đã giành những thắng lợi gì trong trận chiến đấu chống cuộc tập kích không quân bằng máy bay B52 cuối năm 1972?

Trả lời câu hỏi:

– Ngày 14-12-1972, để hỗ trợ cho mưu đồ chính trị — ngoại giao mới, Ních-xơn phê chuẩn kế hoạch mở cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đêm liên tục, bắt đầu từ tối ngày 18 đến hết ngày 29-12-1972, nhằm giành một thắng lợi quân sự quyết định, buộc ta kí một hiệp định có lợi cho Mĩ.

– Quân dân miền Bắc đã đánh trả không quân Mĩ những đòn đích đáng, bắn rơi 81 máy bay (trong đó có 34 máy bay B52 và 5 máy bay Fill), bắt sống 43 phi công Mĩ, đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của chúng. Thắng lợi này được coi như trận “Điện Biên Phủ trên không”.

Câu hỏi 42: Trận “Điện Biên Phủ trên không” của quân dân ta ở miền Bắc có ý nghĩa lịch sử như thế nào?

Trả lời câu hỏi:

Trận “Điện Biên Phủ trên không” là trận thắng quyết định của ta đã buộc Mĩ phải tuyên bố ngừng hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc (15-1-1973) và kí Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973).

Câu hỏi  43: Hiệp dinh Pa-ri năm 1973 về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được kí kết trong hoàn cảnh nào?

Trả lời câu hỏi:

* Hoàn cảnh kí kết

– Ngày 31-3-1968, sau đòn bất ngờ là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân của quân dân ta, Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom phá hoại miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và bắt đầu nói đến thương lượng với Việt Nam.

– Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán chính thức diễn ra tại Pa-ri giữa hai bên là đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Hoa Kì, và từ ngày 25-1-1969 giữa bốn bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Hoa Kì và Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn),

– Trong các phiên họp tại Pa-ri, lập trường của phía Việt Nam là đòi quân Mĩ và quân đồng minh của Mĩ rút hết khỏi miền Nam, đòi họ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Lập trường của phía Mĩ thì ngược lại, nhất là vấn đề rút quân. Mĩ đòi quân đội miền Bắc cũng phải rút khỏi miền Nam.

– Tháng 10-1972, ta chủ động đưa ra bản dự thảo Hiệp định nhưng Mĩ từ chối. Mĩ mở cuộc tập kích bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 với ý đồ buộc phía Việt Nam kí dự thảo Hiệp định Pa-ri do Mĩ đưa ra nhưng Mĩ đã thất bại.

– Quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của Mĩ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mĩ, vào ngày 27-1-1973, phải kí Hiệp định Pa-ri do Việt Nam đưa ra trước đó.

Câu hỏi 44: Nêu nội dung cơ bản của Hiệp định Pa-ri ?

Trả lời câu hỏi:

Nội dung cơ bản của Hiệp định bao gồm những điều khoản sau:

– Hoa Kì và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

– Hoa Kì rút hết quân đội của mình và quân đồng minh, hủy bỏ các căn cứ quân sự Mĩ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

– Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài.

– Các bên thừa nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị.

– Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.

– Hòa Kì cam kết góp phần vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương.

Câu hỏi 45: Nêu ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Pa-ri ?

Trả lời câu hỏi:

– Hiệp định Pa-ri về Việt Nam là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân ta ở hai miền đất nước.

– Với Hiệp định Pa-ri, Mĩ phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, phải rút hết quân về nước. Đó là thắng lợi lịch sử quan trọng, tạo thời cơ thuận lợi để nhân dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Câu hỏi 46: Lập bảng niên đại và sự kiện về thắng lợi chung của nhân dân ba nước Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia trên các mặt trận quân sự và chính trị từ năm 1969 đến năm 1973 ?

Chính trị Quân sự
Thời gian Sự kiện Thời gian Sự kiện
Ngày 24, 25-4-1970 Hội nghị cấp cao ba nước Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia 30-4 đến 30-6-1970 Quân đội Việt Nam với quân dân Cam-pu-chia đập tan cuộc hành quân xâm lược Cam-pu-chia của 10 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn.
12-2 đến 23-3-1971 Quân đội Việt Nam và quân dân Lào đập tan cuộc hành “Lam Sơn 719” của quân Mĩ và quân đội Sài Gòn.

Một số chuyên mục của lịch sử lớp 9

Xem thêmCâu hỏi ôn tập bài 29: Cả nước chiến đấu chống Mĩ cứu nước ( 1965-1973) (Phần 2) – Lịch sử 9

Bài viết liên quan