Đề thi bồi dưỡng học sinh giỏi – Đề số 9 – Lịch sử 12

ĐỀ SỐ 09

(Đề thi HSG lớp 12, Thái Nguyên, năm 2011 -2012)

A. LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Câu 1 (6,0 điểm)
Nêu đặc điểm lớn nhất của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ nửa sau thế kỉ XX và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển kinh tế các nước Mĩ, Nhật Bản.

B. LỊCH SỬ VIỆT NAM

Câu 2 (5,0 điểm)
Hãy làm sáng tỏ nhận định về cuộc kháng chiến chống Tống (1075 – 1077) dưới thời nhà Lý: Lần đầu tiến trong lịch sử, dân tộc ta đã dùng hành động tiến công táo bạo vượt ra ngoài biên giới quốc gìa để tự vệ một cách tích cực, chủ động, sau đó lại lập chiến tuyến và dùng lối đánh chính quy phội hợp chặt chẽ với lối đánh du kích ở vùng sau lưng địch để chống lại một cách thắng lợi cuộc vũ trang xâm lược của một nước lớn.

Câu 3 (4,0 điểm)
Hoàn chỉnh Bảng thống kê một số phong trào yêu nước và cách mạng từ đầu thế kỉ XX đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914):

Nội dung Phong trào Đông du Động Kinh nghĩa thục Cuộc vận động Duy tân ở Trung kỳ Phong trào chống thuế ở Trung kỳ
Thời gian diễn ra
Mục đích
Hình thức và nội động hoạt động chủ yêu

Câu 4 (5,0 điểm)
Vì sao nói: Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 – 1925 phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đấu tranh phong phủ, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia?

HƯỚNG DẪN

Câu 1 – Đặc điểm: Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp…

– Ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ với sức phát triển kinh tế của Mĩ – Nhật: Nhờ áp dụng có hiệu quả những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự phát triển nhanh về kinh tế của Mĩ và Nhật Bản.
+ Đối với Mĩ: Trong khoảng nửa sau những năm 40, sản lượng công nghiệp chiếm tới hơn một nửa sản lượng công nghiệp của thế giới (năm 1948 là hơn 56%); chiếm 50% số tàu bè đi lại trên biển, 3/4 dự trữ vàng của thế giới; nền kinh tế Mĩ chiếm gần 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới…
+ Đối Với Nhật Bản: Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm từ 1960 — 1969 là 10,8%; từ 1970 – 1973 là 7,8%, đến 1968 đã vượt qua các nước Tây Âu vươn lên hàng thứ hai thế giới tư bản chủ nghĩa (sau Mĩ); từ đầu thập kỉ 70 của thế kỉ XX trở thành một trong ba trung tâm kinh tế — tài chính của thế giới..

Câu 2.

– Lần đầu tiên trong lịch sử, dân tộc ta đã dùng hành động tiến công táo bạo vượt ra khỏi biên giới quốc gia để tự vệ một cách tích cực, chủ động: Trước tình hình nhà Tống ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt đã thực hiện chủ trương độc đáo, sáng tạo tiến công trước để tự vệ. Tháng 10/1075, Lý Thường Kiệt chỉ huy hơn 10 vạn quân chia làm hai đạo thủy-bộ tấn công vào các căn cứ hậu cần của địch trên đất Tổng. Đạt được mục tiêu, nhà Lý đã chủ động rút quân, chuẩn bị phòng tuyến chặn địch ở trong nước…
– Lập chiến tuyến và dùng lối đánh chính quy phối hợp chặt chẽ với lối đánh du kích ở vùng sau lưng địch để chống lại một cách thắng lợi cuộc vũ trang xâm lược của một nước lớn :
+ Sau khi rút quân về nước Lý Thường Kiệt gấp rút chuẩn bị bộ phòng. Ông đã cho xây dựng phòng tuyến biên bờ nam sông Như Nguyệt Đây là con sông chặn tất cả các ngả đường vào Thăng Long. Phòng tuyến được đắp đất cao, vững chắc, có nhiều lớp giậu tre dày đặc, dọc theo khúc sống từ Địa Phúc đến Phả Lại dài khoảng 100 km…

+ Để đối phó với cuộc tiến công xâm lược của nhà Tống, quân đội nhà Lý đánh những trận nhỏ nhằm cản bước tiến của kẻ thù. Khi tiến đến bờ bắc sông Như Nguyệt Quách Quỳ phải đóng quân bên bờ bắc chờ thủy quân đến. Nhưng thủy quân của chúng đã bị quân Lý Kế Nguyên chặn đánh tại vùng ven biển nên không thể tiến sâu vào để hỗ trợ cho quân bộ.
+ Chờ mãi không thấy thủy quân đến, Quách Quỳ ra lệnh bắc cầu phao, đóng bè lớn ào ạt tiến qua sống tấn đánh vào phòng tuyến của ta. Quân nhà Lý đã kịp thời phân công mãnh liệt, mưu trí đẩy lùi quân Tống về phía bờ bắc. Cuối năm 1077 nhà Lý mở cuộc tấn công lớn vào trận tuyến của địch quân Tống thua to mười phần chết đến năm, sáu và lâm vào tình thế vô cùng khó khăn, tuyệt vọng. Giữa lúc đó Lý Thường Kiệt đã chủ động kết thúc chiến tranh thông qua việc đề nghị giảng hoà. Quách Quỳ buộc phải chấp nhận. Quân Tổng vội vã rút quân về nước…

Câu 3. Bảng thống kê về một số phong trào yêu nước và cách mạng từ đầu thế kỉ XX đến năm 1914
Nội Phong trào Đông Kinh

Nội dung Phong trào Đông du Đông kinh nghĩa thục Cuộc vận động Duy tân Phong trào chống thuế
Năm 1905-1908 1907 1906-1908 1908
Mục đích phong trào Kêu gọi thanh niên Việt Nam ra nước ngoài (Nhật Bản) học tập, chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ cho việc giành lại độc lập cho nước nhà. Lực lượng nòng cốt cổ động và thực hiện phong trào là Duy Tân hội và Phan Bội Châu Mục đích của phong trào là: khai trí cho dân, phương tiện được hoạch định: mở những lớp dạy học không lấy tiền và tổ chức những cuộc diễn thuyết để trao đổi tư tưởng cùng cổ động trong dân chúng Vận động cải cách (duy tân) theo khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là: Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh.

 

Chống đi phu,đòi giảm sưu thuế

 

Hình thức và nội dung hoạt động chủ yếu Từ năm 1905- 1908, số học sinh Việt Nam sang Nhật của phong trào Đông Du đã lên tới 200 người. Thời gian này, nhiều văn thơ yêu nước và Cách mạng trong phong trào Đông du được truyền rê nước đã động đến tinh thần yêu nước của nhân dân (Hải ngoại huyết thư, Việt Nam quốc sử khảo) Các hoạt động chính: mở trường học các môn địa lí, lịch sử, khoa học thường thức; tổ chức các buổi bình văn; xuất bản sách báo Hình thức hoạt động: mở trường, diễn thuyết về các vấn đề xã hội, tình hình thế giới, đã phá các hủ tục phong kiến, cổ vũ theo cái mới: cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn, cổ động mở mang công thương nghiệp Buổi đầu đoàn người biểu tình không chủ trương dùng bạo lực, chỉ kiên trì đòi hỏi gìâm sưu giảm thuế. Về sau phong trào biến thành một cuộc đối đầu giữa dân nghèo và nhà cầm quyền Cuộc đối đầu này kịch liệt đến nỗi những người đề xướng phong trào không thể kìm hãm được. Bởi vậy, phong trào gần như trở thành một cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền. Do đó, đã xảy ra nhiều vụ đổ máu…

Câu 4. Vì sao nói…

– Diễn ra sôi nổi trên quy mô rộng lớn thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân ở thành th tham gia với nhiều phong trào do nhiều giai cấp lãnh đạo thể hiện mục tiêu dân tộc, dân chủ.
– Phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo với các cuộc tẩy chay tư sản Hoa kiều, vận động người Việt Nam chỉ mua hàng của người Việt Nam, chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá; đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn của tư bản Pháp và độc quyền xuất cảng lúa gạo tại Nam kỳ (1923). Trên cơ sở này, một số tư sản và địa chủ lớn ở Nam kỳ đã lập ra Đảng Lập Hiến (1923) tiến hành đấu tranh đòi tự do, dân chủ…

– Phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ của tầng lớp tiểu tư sản trí thức diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức đấu tranh phong phủ: thành lập các tổ chức chính trị yêu nước như Việt Nam Nghĩa đoàn, Hội Phục Việt, Đảng Thanh niên để tập hợp lực lượng, tổ chức đấu tranh với nhiều hoạt động phong phú sôi động như mít tinh, biểu tình, bãi khoá, đỉnh cao là cuộc đấu tranh công khai đòi nhà cầm quyền Pháp trả tự do cho Phan Bội Châu (1925), phong trào truy điệu và để tang Phan Châu Trình; xuất bản báo chí để tuyên truyền vận động (Chuông rè, An Nam trẻ, Người nhà quê, Hữu Thanh, Tiếng dân, Động Pháp thời báo, Thực nghiệp dân báo..), lập các nhà xuất bản tiến bộ để xuất bản sách yêu nước và cách mạng như Nam Đồng thư xã, Quan Hải tùng thư, Cường học thư xã.
– Phong trào công nhân phát triển hơn trước với hơn 20 cuộc đấu tranh tiêu biểu và đã bước đầu đi vào tổ chức với việc thành lập Công hội bí mật ở Sài Gòn – Chợ Lớn. Với cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son (8/1925) đánh dấu một bước tiến mới của phong trào công nhân Việt Nam (…).
– Bên cạnh ưu điểm, phong trào còn nhiều hạn chế. Phong trào đấu tranh của tư sản dân tộc thể hiện tính chất cải lương. Phong trào đấu tranh của tiểu tư sản trí thức tuy diễn ra sôi nổi nhưng bồng bột nhất thời, dễ bị tan vỡ khi bị đàn áp hoặc được nhượng bộ. Phong trào công nhân còn lẻ tẻ và tự phát.

Những chuyên mục hay của Lịch sử lớp 12:

Bài viết liên quan