Ôn tập lịch sử Việt Nam từ năm 1930-1945 (Phần 3) – Lịch sử 12

Câu 17: Trình bày những nét chính của cao trào kháng Nhật cứu nước từ tháng 3/1945 đến tháng 8/1945

  1. Điều kiện lịch sử.

Đầu năm 1945, lực lượng cách mạng của quần chúng bao gồm cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp.

Ngay sau khi tiếng súng đảo chính của Nhật vừa nổ, Hội nghị Ban Thường vụ trung ương Đảng họp, phân tích, nhận định tình hình, đề ra chủ trương mới.

12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

* Nội dung bản chỉ thị :

– Phân tích nguyên nhân và hậu quả của cuộc đảo chính: Pháp bị tiêu diệt, Nhật mới lên cầm quyền, chưa ổn định, đây là cơ hội cho cách mạng Việt Nam phát triển nhanh.

– Xác định kẻ thù cụ thể trước mắt và duy nhất của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật.

– Thay khẩu hiệu “đánh đuổi Pháp – Nhật” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật”.

– Đưa ra khẩu hiệu “thành lập chính quyền cách mạng”, để chống chính phủ bù nhìn thân Nhật.

– Phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa và sẵn sàng chuyển sang Tổng khởi nghĩa khi có đủ điều kiện.

– Thay đổi hình thức tuyên truyền cổ động đấu tranh cho thích hợp thời kì tiền khởi nghĩa.

Tình hình đó đã tạo điều kiện cho cách mạng Việt Nam phát triển nhanh chóng.

15/3/1945, Mặt trận Việt Minh ra “hịch” kêu gọi đồng bào dứng lên chống Nhật cứu nước.

Bản chỉ thị này đã thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, kịp thời của Đảng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và Việt Minh trong cao trào kháng Nhật cứu nước, trực tiếp dẫn đến thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.

Tháng 4/1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kì họp cụ thể hóa bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Sau khi độc chiếm Đông Dương, phát xít Nhật tung ra luận điệu “ trao trả độc lập”, nhưng thực tế lại thi hành một chính sách hết sức phản động, làm cho đời sống nhân dân vẫn hết sức điêu đứng, mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với phát xít Nhật và tay si phát triển gay gắt.

Cả nước bước vào một cao trào CM mới – cao trào kháng Nhật cứu nước (cao trào tiền khởi nghĩa).

Những chủ trương mới của Ban Thường vụ Trung ương Đảng có tác dụng chỉ đạo kịp thời, kiên quyết đối với cuộc đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân trong cao trào kháng Nhật cứu nước, trực tiếp dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.

2. Sự phát triển của cao trào kháng Nhật cứu nước.

4/1945, Hội nghị quân sự Bắc Kì họp nhằm chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa thắng lợi :

– Thống nhất Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Việt Nam cứu quốc quân thành Việt Nam giải phóng quân.

– Phát triển hơn nữa lực lượng vũ trang và nửa vũ trang.

– Mở trường đào tạo cán bộ quân sự, chính trị…

Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) để chỉ đạo cách mạng.

Cả nước dấy lên cao trào kháng Nhật cứu nước sôi nổi mạnh mẽ.

Đây là một cao trào có quy mô rộng lớn, thu hút đông đảo quần chúng tham gia ở khắp thành thị và nông thôn với những hình thức đấu tranh phong phú, quyết liệt, thích ứng với thời kì tiền khởi nghĩa.

Khởi nghĩa từng phần đã nổ ra ở nhiều vùng nông thôn như Ba Tơ, Đông Triều, Nghĩa Lộ…

Đặc biệt ở Cao – Bắc – Lạng, Giải phóng quân phối hợp với lực lượng chính trị của quần chúng đập tan chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng.

Nhiều chiến khu xuất hiện, tiêu biểu là sự ra đời của khu giải phóng Việt Bắc gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên.

Sự ra đời của khu giải phóng Việt Bắc có ý nghĩa chính trị to lớn: cổ vũ nhân dân ta tiến lên giành chính quyền ở các nơi khác.

Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, diễn thuyết… nổ ra ở các chợ, bến đò, xí nghiệp, trường học, rạp chiếu bóng… ở nhiều thị xã, thành phố, các đội Danh dự Việt Minh thẳng tay trừng trị những tên tay sai đắc lực của địch.

Nạn đó, hậu quả của chính sách bóc lột tàn bạo của đế quốc phát xít Pháp- Nhật làm 2 triệu đồng bào ta ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ chết, hàng triệu người ngắc ngoải.

Đảng đưa ra khẩu hiệu “phá kho thóc, giải quyết nạn đói” làm dấy lênphong trào đánh chiếm kho thóc của Nhật chia cho dân.

Từ đó, phong trào cách mạng lên cao: biểu tình, trừng trị bọn ác ôn, khởi nghĩa vũ trang, thành lập chính quyền ở nhiều địa phương.

Công tác tuyên truyền, báo chí của Đảng phát triển mạnh mẽ có tác dụng to lớn tới phong trào cách mạng của quần chúng.

Cao trào kháng Nhật cứu nước đã làm cho lực lượng cách mạng phát triển nhảy vọt, kẻ thù suy yếu nghiêm trọng, quần chúng đã được chuẩn bị sẵn sàng để Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.

3. Ý nghĩa của cao trào kháng Nhật cứu nước.

– Cao trào kháng Nhật cứu nước đã lôi cuốn hàng triệu quần chúng tham gia, rèn luyện cho quần chúng nhiều hình thức đấu tranh phong phú, quyết liệt, sức mạnh quần chúng tăng lên vượt bậc, quần chúng sẵn sàng hành động khi thời cơ đến.

– Đây là một cuộc tập dượt vĩ đại để đưa quần chúng tiến lên Tổng khởi nghĩa thắng lợi.

– Cao trào có tác dụng chuẩn bị trực tiếp cho cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi.

– Qua cao trào kháng Nhật cứu nước, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng ở cả nông thôn và thành thị đều phát triển nhanh chóng vượt bậc, lực lượng địch suy yếu nghiêm trọng đưa thời cơ Tổng khởi nghĩa nhanh chóng đến chín muồi.

– Nhờ sự phát triển của cách mạng qua cao trào kháng Nhật cứu nước nên nhân dân ta đã chớp được thời cơ “ngàn năm có một” để Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Câu 18: Cách mạng tháng Tám năm 1945 có phải cuộc cách mạng bạo lực không? Vì sao?

Cách mạng bạo lực, theo nghĩa kinh điển, là cuộc cách mạng bằng các biện pháp bạo lực, qua khởi nghĩa vũ trang và lật đổ được chế độ cũ. Như vậy Cách mạng tháng 8 là cuộc cách mạng cuộc dân tộc dân chủ kiểu mới. Nó có nhiệm vụ đánh đổ ách thống trị thực dân phong kiến, giành độc lập cho cho Tổ quốc, tự do hạnh phúc cho nhân dân, đưa đất nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa.

+ Suốt 80 năm đô hộ nước ta, giặc Pháp chưa hề nương nhẹ đối với bất cứ ai chống lại chúng. Hàng chục cuộc khởi nghĩa vũ trang và hàng trăm, hàng nghìn cuộc đấu tranh lớn nhỏ cho các quyền dân tộc, dân chủ và dân sinh đã bị dìm trong máu. Lấy bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực của kẻ xâm lược là lẽ đương nhiên. Có điều, Đảng ta hiểu bạo lực cách mạng không chỉ là bạo lực vũ trang mà còn có bạo lực chính trị. Đấu tranh vũ trang kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị là 1 quy luật, trong đó đấu tranh chính trị là gốc, làm nền cho đấu tranh vũ trang, và đấu tranh vũ trang đến lượt nó sẽ làm chỗ dựa vững chắc và thúc đẩy đấu tranh chính trị đến cao trào, tiến tới một cuộc tổng khởi nghĩa toàn diện.

+ Từ lúc cao trào cứu nước được phát động vào những năm 1940 – 1941 trở đi, nhất là sau khi Pháp đầu hàng Nhật, nước ta ngày càng tiến lên trong thế sục sôi cách mạng. 1 căn cứ địa gồm sáu tỉnh Cao – Bắc – Lạng, Thái – Tuyên – Hà đã hình thành và ngày thêm mở rộng. Đồng thời, nhiều khu du kích nhỏ khác (như Ba Tơ ở Quảng Ngãi) và nhiều đội tự vệ vũ trang của quần chúng, 1 đội quân giải phóng đã hình thành. Ngoài ra, với sự hỗ trợ của Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc, cách mạng nước ta đã tập hợp được một “đội quân chính trị” gồm hàng chục vạn, hàng triệu người sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền.
+ Chính trong tình thế đó, mà đêm 13-8-1945, ngay sau khi được tin phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh, Ủy ban khởi nghĩa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã ra Quân lệnh số 1. Ngày 14, Tổng Bộ Việt Minh ra lời hiệu triệu kêu gọi Tổng khởi nghĩa. Nghe lời kêu gọi đó, cả nước hừng hực khí thế đứng lên đánh giặc, giành chính quyền ở các thành phố lớn, tỉnh lỵ. 30.8.1945, Vua Bảo Đại bằng lòng trao ấn kiếm, thoái vị để “làm dân một nước độc lập hơn là làm vua một nước nô lệ”, chấm dứt hàng ngàn năm tồn tại của chế độ phong kiến Việt Nam.

Câu 19: Hãy trình bày và phân tích nét độc đáo trong Cách mạng tháng Tám năm 1945

Một là, sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, phản đế và phản phong.

Ngay từ khi mới ra đời, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (2-1930) đã nhận thấy yêu cầu khách quan, bức thiết nhất của xã hội thuộc địa như Việt Nam là phải tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chứ chưa phải là đấu tranh giai cấp lên cao như ở các nước tư bản phương Tây. Đối tượng trực tiếp của cách mạng thuộc địa lúc này là chủ nghĩa thực dân, vì “Nọc độc và sức sống của của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa”. Để giải phóng thuộc địa, các dân tộc thuộc địa phải cắt đứt cái vòi nọc độc ấy. Trên cơ sở nhận thức rõ những vấn đề có tính đặc thù ở Việt Nam không giống như ở phương Tây thời C. Mác, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đó là một quá trình phát triển lâu dài, phải trải qua những giai đoạn chiến lược khác nhau, mà trước tiên là đánh đổ bọn đế quốc và Việt gian tay sai (phong kiến phản động), giành độc lập cho đất nước. Chủ trương đó đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử Việt Nam.

Hai là, sáng tạo trong tập hợp lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc

Tổ chức lực lượng cách mạng là một vấn đề có tầm chiến lược của cách mạng Việt Nam, một bộ phận quan trọng và nét đặc thù trong đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng thời kỳ từ 1930 đến Cách mạng Tháng Tám 1945. Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quan điểm mang sắc thái riêng về lực lượng trong cách mạng giải phóng dân tộc.

Ba là, sáng tạo trong lựa chọn phương pháp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Muốn đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi, điều quan trọng trước tiên là phải xác định đúng phương hướng và mục tiêu chiến lược cũng như phương hướng và mục tiêu cụ thể của mỗi thời kỳ. Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn có những đóng góp quan trọng, làm phong phú thêm kho tàng lý luận đó.

Câu 20: Ý nghĩa lịch sử của cách mạng tháng Tám là gì?

* Đối với dân tộc:
– Phá 2 xiềng xích nô lệ: Pháp-Nhật
– Đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành mộc nước dân chủ, độc lập.
– Lật đổ chế độ quân chủ (mọi quyền lực,mọi hoạt động trong xã hội như tuyệt đối tập trung trong tay Vua hay Nữ hoàng lãnh đạo, được thừa kế theo nguyên tắc cha truyền con nối)
– Đưa nhân dân ta thoát khỏi thân phận nô lệ.
– Khẳng định Đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước.
– Để lại bài học quý báu cho cách mạng, nhân dân Việt Nam.

* Đối với thế giới: Thắng lợi đầu tiên trong thời đại cách mạng vô sản của một dân tộc nhỏ yếu tự giải phóng khỏi ách đế quốc thực dân.
– Suy yếu hệ thống thuộc địa đế quốc thực dân.
– Cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa

Câu 21: Các hình thức tổ chức mặt trận thống nhất từ năm 1930-1945. Vai trò của từng mặt trận

Tên mặt trận Hình thức tổ chức Vai trò
1 Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương. Đến tháng 3 – 1938, đổi thành Mặt trận dân chủ Đông Dương. Vận động quần chúng tham gia vào mặt trận để tranh chống phát xít và bọn phản động thuộc địa đòi các quyền tự do dân chủ, cơm áo hoà bình. Tập hợp đông đảo quần chúng hàng triệu người đâu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ. Giáo dục và giác ngộ quần chúng hiếu được chủ trương của Đảng, sẵn sàng tham gia đâu tranh cách mạng.
Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. Vận động, tổ chức và lôi kéo các giai cấp, tầng lớp và tôn giáo vào mặt trận để đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và phát xít Pháp – Nhật làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Tập hợp quần chúng đầu Ị tranh chống đế quốc Pháp, phát xít Nhật. Tổ chức các cuộc khởi nghĩa vũ trang 1 chuẩn bị cho thời kì đấu tranh mới.
Mặt trận Việt Minh Liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo. Thành lập các đoàn thể cứu quốc để vận động quần chúng đấu tranh cách mạng. –   Tập hợp đông đảo quần 1 chúng, hình thành nên lực 1 lượng chính trị cách mạng đông đảo dưới sự lãnh đạo của Đảng, động viên được sức mạnh của cả dân tộc, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, phân hoá và cô lập kẻ thù.

–  Trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận để hình thành và phát triển lực lượng vũ trang, chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

 

Câu 22 : Nêu tính chất, đặc điểm của Cách mạng tháng Tám năm 1945

*Đặc điểm của cách mạng tháng Tám :
– CMT8 đã xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta, mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc – kỉ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
– CMT8 là sự vùng dậy của cả một dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản VN với tinh thần ” đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Đó là kết quả của phong trào cách mạng liên tục diễn ra trong suốt 15 năm kể từ ngày thành lập Đảng.
– Thành quả lớn nhất của CMT8 1945 là sự ra đời nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa – nhà nước cách mạng kiểu mới ở VN
* Tính chất của Cách mạng tháng 8 :
– Đây là cuộc cách mạng mang tính thời đại sâu sắc.
– Cuộc cách mạng có tính dân tộc, nhân dân rộng lớn và phổ biến.
– Cuộc cách mạng triệt để ,mang đậm tính nhân văn.

Câu 23: Trình bày nội dung Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 10/1930)

– Nội dung Hội nghị

+ Quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

+ Cử Ban Chấp hành Trung ương chính thức, do Trần Phú làm Tổng Bí thư.

+ Thông qua Luận cương chính trị của Đảng.

–  Nội dung Luận cương chính trị tháng 10 – 1930

– Xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương: lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kì tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.

– Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng đánh đổ đế quốc và phong kiến có quan hệ  khăng khít với nhau.

– Động lực cách mạng là giai cấp vô sản và  giai cấp nông dân.

– Lãnh đạo cách mạng là giai cấp vô sản với  đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.

– Xác định hình thức, phương pháp đấu tranh và mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và  cách mạng thế giới.

Nhận xét

– Tích cực: khẳng dịnh được những vấn đề chiến lược của cách mạng.

– Hạn chế:

+ Chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương, không đưa ngọn cờ dân tộc lên hàng đầu, nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất.

+ Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và phong kiến của tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc chống đế quốc và tay sai.

Câu 24: Trình bày điều kiện dẫn đến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

* Điều kiện bùng nổ

Một cuộc tổng khởi nghĩa chỉ có thể thắng lợi khi có đủ những điều kiện chủ quan, khách quan và nổ ra đúng thời cơ.

– Về chủ quan:

+ Đảng đã có sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối và phương pháp cách mạng, thể hiện tập trung ở Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5 – 1941)…

+ Lực lượng cách mạng cũng được chuẩn bị chu đáo trong 15 năm kể từ khi Đảng ra đời, được rèn luyện qua nhiều phong trào cách mạng.

Đến tháng 8 – 1945, toàn Đảng, toàn dân đã sẵn sàng, chủ động, kiên quyết hi sinh phấn đấu giành độc lập tự do.

+ Tầng lớp trung gian, khi Nhật đảo chính Pháp mới chỉ hoang mang, dao động, nhưng đến lúc này đã thấy rõ bản chất xâm lược của Nhật, chán ngán những chính sách của Nhật, nên đã ngả hẳn về phía cách mạng.

– Về khách quan:

+ Sau khi phát xít Đức bị tiêu diệt, Liên Xô  tuyên chiến với Nhật, đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc. Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống các thành phố Hirôsima và Nagaxaki của Nhật Bản. Ngày 9 – 8 – 1945, Hội đồng tối coa chiến tranh của Nhật họp bàn về các điều kiện đầu hàng theo Tuyên bố Pốtxđam. Ngày 14 – 8 – 1945, Hội đồng tối cao chiến tranh và Nội các Nhật Bản thông qua quyết định đầu hàng. Ngày 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, lo sợ đến cực điểm. Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Thời cơ cách mạng xuất hiện.

+ Tuy nhiên, một nguy cơ mới đang dần đến. Quân đội các nước đế quốc với danh nghĩa đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Những thế lực phản động trong nước cũng đang tìm cách thay thầy đổi chủ. Chính vì thế, vấn đề giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước rút với quân Đồng minh mà nhân dân Việt Nam không thể chậm trễ.

– Đảng kịp thời phát động khởi nghĩa:

+ Ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ  Việt Minh thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc. 23 giờ cùng ngày, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ban bố Quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước.

+ Từ ngày 14 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, thông qua kế  hoạch lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa.

+ Tiếp đó, từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945, Đại hội quốc dân ở Tân Trào tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt minh, cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.

Câu 25: Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945

a. Nguyên nhân thắng lợi

– Nguyên nhân khách quan:

Chiến thắng của quân  Đồng minh trong cuộc chiến tranh chống phát xít tạo cơ hội thuận lợi cho nhân dân Việt Nam đứng lên Tổng khởi nghĩa.

– Nguyên nhân chủ quan:

+ Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất cho độc lập, tự do. Vì vậy, khi Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh phất cao cờ cứu nước thì toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà.

+ Có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Hồ Chí Minh, đã đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo. Đảng đã có quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo, rút kinh nghiệm qua thực tiễn đấu tranh, đặc biệt là lãnh đạo chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn vận động giải phóng dân tộc 1939 – 1945. Các cấp bộ Đảng và Việt Minh từ Trung ương đến địa phương linh hoạt, sáng tạo chỉ đạo khởi nghĩa, chớp thời cơ phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền.

b. Ý nghĩa lịch sử

+ Đối với trong nước:

  • Mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, phá tan xiềng xích nô lệ của Pháp hơn 80 năm và Nhật gần 5 năm, chấm dứt chế độ phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  • Mở đầu kỉ nguyên mới của dân tộc: kỉ nguyên độc lập, tự do, kỉ nguyên nhân dân nắm chính quyền, làm chủ đất nước.
  • Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp, trở thành một Đảng cầm quyền và hoạt động công khai. Nhân dân Việt Nam từ địa vị nô lệ, bước lên địa vị người làm chủ đất nước.

+ Đối với thế giới:

  • Góp phần vào thắng lợi của cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít; chọc thủng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.
  • Cổ vũ các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh tự giải phóng; có ảnh hưởng trực tiếp đến cách mạng Lào và Campuchia.

c. Bài học kinh nghiệm

– Về chỉ đạo chiến lược: Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, nắm bắt diễn biến tình hình thế giới và trong nước để thay đổi chủ trương cho phù hợp; giải quyết đúng mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.

– Về xây dựng lực lượng: Tập hợp, tổ chức đoàn kết lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tạo nên sức mạnh toàn dân, phân hoá và cô lập cao độ kẻ đế quốc và tay sai để đánh đổ chúng.

– Về phương pháp cách mạng: Sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng, kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ ở nông thôn, tiến lên chớp đúng thời cơ tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị, đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.

– Về xây dựng Đảng: Luôn kết hợp giữa tổ chức và đấu tranh, làm cho đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng thành công.

Theo dõi các phần tiếp theo:

Phần 1: Ôn tập lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 (Phần 1) – Lịch sử 12

Phần 2:Ôn tập lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 (Phần 2) – Lịch sử 12

Những chuyên mục hay của Lịch sử lớp 12:

Bài viết liên quan