Ôn tập Những vấn đề cơ bản của lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1917 đến nay (Phần 2) – Lịch sử 12

Câu 7: Nguyên nhân và quá trình diễn ra khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933

Nguyên nhân: Xảy ra do các nước tư bản chạy theo lợi nhuận, sản xuất hàng hóa ồ ạt.Trong khi đó sức mua giảm sút vì quần chúng quá nghèo khổ.
Đây là cuộc khủng hoảng thừa.Trái ngược với cuộc khủng hoảng 1919-1924_ là cuộc khủng hoảng thiếu.
Cuộc khủng hoảng đã phản ánh đúng mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ phe đế quốc cũng như những căn bệnh của CNTB. Những điều mà hệ thống Véc-xai_Oa-sinh-tơn không thể giải quyết nổi

Diễn biến: Cuộc khủng hoảng từ Mĩ nhanh chóng lan rộng ra toàn thế giới. Gây nên hậu quả khủng khiếp ở nhiều nước. Từ kinh tế, cuộc đại khủng hoảng lan sang lĩnh vực chính trị. Hàng ngàn cuộc biểu tình, đấu tranh đã diễn ra, nhất là ở các nước Tư bản. Đời sống nhân dân hết sức khổ cực, các tầng lớp nhân dân điêu đứng.

Hậu quả: Chính từ cuộc đại khủng hoảng này mà chủ nghĩa phát xít đã ra đời và lên nắm quyền ở Đức, Ý, Nhật_ráo riết chạy đua vũ trang hòng gây chiến tranh chia lại thế giới.
Hậu quả nặng nề mà cuộc đại khủng hoảng này để lại được dùng để làm thước đo trong lịch sử_cùng với cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973.
Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay đang được các nhà chuyên môn so sánh với cuộc đại khủng hoảng trong lịch sử nhân loại.

Câu 8: Tại sao khủng hoảng Kinh tế 1929-1933 lại dẫn tới nguy cơ của một cuộc chiến tranh mới?

Khủng hoảng kinh tế đã đe dọa nghiêm trọng sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Để cứu vãn tình thế, các nước tư bản buộc phải xem xét lại con đường phát triển của mình. Trong khi các nước Mĩ, Anh, Pháp tiến hành những cải cách kinh tế-xã hội để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng và đổi mới quá trình quản lí, tổ chức sản xuất thì các nước Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản lại tìm kiếm lối thoát bằng những hình thức thống trị mới. Đó là việc thiết lập các chế độ độc tài phát xít-nền chuyên chính khủng bố công khai của những thế lực phản động nhất, hiếu chiến nhất.

Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản là những nước không có hoặc có ít thuộc địa, ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu và thị trường, đã đi theo con đường phát xít hóa chế độ chính trị để cứu vãn tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng của mình. Quan hệ giữa các cường quốc tư bản chuyển biến ngày càng phức tạp. Sự hình thành hai khối đế quốc đối lập : Một bên là Mĩ, Anh, Pháp với một bên là Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản và cuộc chạy đua vũ trang ráo riết đã báo hiệu nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới.

Câu 9: Chủ nghĩa phát xít được hình thành như thế nào?

Sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới mới.

Cuộc tổng khủng hoảng kinh tế – xã hội 1929-1933 đã tác động sâu sắc đến diễn trình lịch sử thế giới trên nhiều phương diện khác nhau. Ở Tây Âu và Bắc Mỹ, tình trạng tiêu điều của nền kinh tế đã đẩy tuyệt đại đa số dân chúng vào cảnh sống cùng cực. Tình trạng bao trùm chung ở tất cả các nước tư bản phát triển là: xã hội mất an ninh nghiêm trọng do tình trạng lạm dụng bạo lực, đặc biệt là sự thịnh hành của các xu hướng, các phong trào bạo lực xã hội của giới trẻ vô nghề nghiệp, thất vọng trước cuộc sống hiện tại và bi quan, mất định hướng về tương lai. Đó chính là môi sinh lịch sử thuận lợi cho sự xuất hiện các xu hướng chính trị bạo lực – cực hữu ở các nước tư bản phương Tây, mà hình thức điển hình nhất là chủ nghĩa phát xít.

Chủ nghĩa phát xít được hình thành trên cơ sở hội tụ những xu hướng chính trị – xã hội cực hữu phản động nhất đã xuất hiện và phát triển từ nhiều thập kỷ, như một hệ quả lịch sử tất yếu của sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, đồng thời, đây cũng là một hình thức phản ứng của các thế lực chính trị phản động chống lại làn sóng cách mạng dâng cao mạnh mẽ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917).

Khi cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ra, một trong những lối thoát mà các chính phủ phương Tây đặt hy vọng vào là tăng cường chạy đua vũ trang, quân phiệt hoá nền kinh tế và toàn bộ thể chế chính trị – xã hội. Điều cần lưu ý ở đây là, không chỉ các tầng lớp bảo thủ, phản động mà ngay cả một bộ phận rất đông nhân dân lao động, kể cả giai cấp công nhân, cũng bị ảnh hưởng của tuyên truyền phát xít và hy vọng rằng chính quyền phát xít sẽ mang lại cơ hội việc làm và ổn định cuộc sống cho họ. Hiện tượng đó càng cho thấy tính chất đặc biệt nguy hiểm của chủ nghĩa phát xít và mức độ khó khăn, phức tạp của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh.

Ngay sau khi lên nắm quyền ở Đức (30-1-1933), Hítle (Adolf Hitler) lập tức thủ tiêu chế độ đại nghị, thiết lập chế độ thống trị quân phiệt, độc tài và sử dụng vũ lực tối đa tiêu diệt bất cứ lực lượng đối lập nào. Hai đối tượng ở trong nước mà Hítle tập trung tiêu diệt trước hết là những người cộng sản và người Do Thái. Đồng thời, Hítle và Chính phủ Quốc xã ra sức chuẩn bị cho một cuộc “chiến tranh tổng lực” để mở rộng “không gian sinh tồn” (Lebensraum) và khẳng định vị trí bá chủ của “chủng tộc thượng đẳng” Ariơ (Arier)2.
Cũng trong thời gian đó, xu thế quân phiệt đã chiếm ưu thế áp đảo trong chính giới Nhật Bản. Từ sau khi khẳng định được vai trò của mình trong thế giới của các cường quốc tư bản, Nhật Bản ra sức chạy đua vũ trang chuẩn bị cho một cuộc xâm lược đại quy mô để xâm chiếm toàn cõi Á Đông. Ngày 18-9-1931, Nhật Bản cho quân tấn công xâm chiếm Mãn Châu làm bàn đạp chuẩn bị cho các bước bành trướng tiếp theo.

Tháng 10 và tháng 11-1936, Đức, Nhật và Italia đã ký kết một hiệp ước liên minh chống Quốc tế Cộng sản (Antikominternpakt). Thế là trục phát xít thế giới Đức – Italia – Nhật Bản đã hình thành, trở thành nguy cơ chiến tranh đe dọa hoà bình và số phận của toàn nhân loại.

Câu 10: Sự thành lập và hoạt động của tổ chức ASEAN. Quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN

a.    Nguyên nhân ra đời của tổ chức ASEAN

Sau khi giành được độc lập, bước vào thời kì phát triển kinh tế trong điều kiện rất khó khăn, nhiều nước ở Đông Nam Á thấy cần có sự hợp tác với nhau cùng phát triển.

Đồng thời muốn hạn chế ảnh hưởng của các thế lực bên ngoài đối với khu vực, nhất là khi cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Đông Dương đang bị sa lầy và thất bại.

Hơn nữa, những tổ chức hợp tác mang tính châ’t khu vực xuâít hiện ngày càng nhiều, nhât là Khôi thị trường chung châu Âu (EEC).

Vì những lẽ đó mà ngày 8 – 8 – 1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (viết tắt theo tiếng Anh là ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với sự tham gia của 5 nước: Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Thái Lan và Philíppin.

b.    Quá trình hoạt động:

Trong giai đoạn đầu (1967 – 1975), ASEAN là một tổ chức non yếu, sự hợp tác trong khu vực còn trong trạng thái khởi đầu, chưa có vị trí trên trường quốc tế. Từ giữa những năm 70, ASEAN có những bước tiến mới. Sự phát triển này được đánh dấu bằng Hội nghị cấp cao lần thứ nhất họp tại Ba-li (Inđônêxia) tháng 2 – 1976 với việc kí Hiệp ước hữu nghị và hợp tác ở Đông Nam Á (gọi tắt là Hiệp ước Bali).

Vào thời điểm này, quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN bước đầu được cải thiện. Hai nhóm nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao và bắt đầu có các chuyến đi thăm lẫn nhau của các nhà lãnh đạo cấp cao.

– Ngày 28 – 7 – 1995, Việt Nam trò thành thành viên chính thức của ASEAN.

– Việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã mở ra một thời kì mới, thời kì hội nhập khu vực hoá của cả Đông Nam Á.

Năm 1984, sau khi giành được độc lập, Brunây gia nhập và trở thành thành viên thứ 6 của ASEAN.

Từ đầu những năm 90, chiến tranh lạnh châm dứt và “vần đề Campuchia” được giải quyết, tình hình chính trị khu vực được cải thiện căn bản, ASEAN có điều kiện mở rộng tô chức, kết nạp thành viên mới.

Ngày 22-7 -1992, Việt Nam và Lào tham gia Hiệp ước Bali. Tiếp đó, tháng 7 – 1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN. Tháng 7-1997, Lào và Mianma gia nhập ASEAN, và tháng 4 – 1999 Campuchia được kết nạp vào tổ chức này.

Như vậy, từ 5 nước sáng lập ban đầu, ASEAN đã phát triển thành 10 thành viên. Từ đây, ASEAN đẩy mạnh hoạt động hợp tác kinh tế, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định để cùng phát triển.

c.   Quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN:

Quan hệ Việt Nam – ASEAN được chia làm các thời kì sau:

_Thời kì 1967 – 1975: Đây là thời kì quan hệ Việt Nam và các nước ASEAN có nhiều vấn đề phức tạp.

Năm 1976, ASEAN được thành lập với tuyên bố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng thực chất những nguyên nhân thành lập chủ yếu lại là vấn đề an ninh chính trị.

Tuyên bố Băng Cốc (1967) nói ASEAN không phải là một tổ chức liên kết quân sự, nhưng trong bối cảnh tư duy của thời Chiến tranh lạnh đã chi phối suy nghĩ của cả hai bên; do đó, các tổ chức được thành lập hoặc là sản phẩm của bên này, hoặc là của bên kia. Đấy là chưa kể trong ASEAN có hai nước tham gia SEATO và đã cùng Mĩ tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cho nên, khi đó Việt Nam nhìn nhận ASEAN là sản phẩm của Mĩ.

Thời kì 1975 – 1989: Từ năm 1975 đến năm 1979, Việt Nam cố gắng mở rộng quan hệ song phương với các nước trong khu vực, đặc biệt là năm 1976, Việt Nam đã đưa ra chính sách 4 điểm, Việt Nam khẳng định muốn mở rộng quan hệ với các nước Đông Nam Á. Đến cuối năm 1978, quan hệ Việt Nam với các nước ASEAN được thiết lập và phát triển qua việc kí các hiệp định kinh tế, thương mại, khoa học – kĩ thuật, hàng không và hàng hải.

Từ năm 1979 đến năm 1989, quan hệ giữa ASEAN và các nước Đông Dương hê’t sức căng thẳng do vấn đề Campuchia.

Thời kì 1989 – 1997: Sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết theo phương pháp hoà bình, các nước ASEAN đã phát triển quan hệ song phương với Việt Nam. Ngày 22-7 – 1992, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp ước Bali

Câu 11: Trình bày những thành tựu xây dựng đất nước và chính sách đối ngoại của Ấn Độ sau khi giành độc lập

a.   Cuộc đấu tranh giành độc lập

Trong những năm 1945 – 1947, cuộc đấu tranh đòi độc lập của nhân dân Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại bùng lên mạnh mẽ.

Quy mô rộng lớn. và khí thế của phong trào đấu tranh đã làm cho chính quyền thực dân Anh không thể tiếp tục thống trị Ấn Độ theo hình thức thực dân kiểu cũ được nữa, phải nhượng bộ, hứa sẽ trao quyền tự trị cho Ấn Độ và người Anh sẽ rời khỏi Ấn Độ trước tháng 7 -1948.

Trên cơ sở thoả thuận này, ngày 15 – 8 – 1947, Ấn Độ đã tách thành hai quô’c gia: Ấn Độ và Pakixtan.

Không thoả mãn với quy chế tự trị, Đảng Quốc đại đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc hoàn toàn trong những năm 1948 -1950. Trước sức ép của phong trào quần chúng, thực dân Anh buộc phải công nhận độc lập hoàn toàn của Ấn Độ. Ngày 26 -1 – 1950, Ấn Độ tuyên bố độc lập và thành lập nước cộng hoà.

b.   Những thành tựu xây dựng đất nước và chính sách đối ngoại của Ấn Độ sau khi giành độc lập

–      Thành tựu:

Trong thời kì xây dựng đất nước, Ấn Độ đã thực hiện những kế  hoạch dài hạn nhằm phát triển kinh tế- xã hội và văn hoá. Nhờ thành tựu của cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp, từ giữa những năm 70 của thế kỉ XX, Ấn Độ đã tự túc được lương thực cho gần 1 tỉ người và bắt đầu xuất khẩu. Sản xuất công nghiệp tăng, đặc biệt là công nghiệp nặng, chế tạo máy, xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại.

Trong ba thập kỉ cuối thế kỉ XX, Ấn Độ đầu tư nhiều vào lĩnh vực công nghệ cao, trước hết là công nghệ thông tin và viễn thông, và đang cố gắng vươn lên hàng các cường quốc về công nghệ phần mềm, công nghệ hạt nhân, công nghệ vũ trụ… Cuộc “cách mạng chất  xám bắt đầu từ những năm 90 đã đưa Ấn Độ thành một trong những nước sản xuất phần mềm lớn nhất thế giới.

Trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và khoa học – kĩ thuật, Ấn Độ có những bước tiến nhanh chóng.

–   Chính sách đối ngoại:

Ấn Độ theo đuổi chính sách hoà bình, trung lập tích cực, luôn luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc. Ấn Độ là một trong những nước sáng lập Phong trào không liên kết. Vị thế của Ấn Độ ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 7 -1 – 1972

Câu 12: Tại sao trật tự thế giới được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai mang tên Trật tự hai cực Ianta? Phân tích hệ quả của những quyết định quan trọng tại Hội nghị cấp cao Ianta

a. Hoàn cảnh lịch sử:

  • Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách đặt ra trước các cường quốc Đồng minh:
    • Việc nhanh chóng đánh bại phát xít.
    • Tổ chức lại thế giới sau chiến tranh.
    • Việc phân chia thành quả chiến thắng.
  • Từ ngày 4 đến ngày 11 – 2 – 1945, Mỹ, Anh, Liên Xô họp hội nghị quốc tế ở Ianta (Liên Xô) để thỏa thuận việc giải quyết những vấn đề bức thiết sau chiến tranh và hình thành một trật tự thế giới mới.
  • Thành phần tham dự: bao gồm nguyên thủ của ba quốc gia có vai trò quan trọng nhất trong chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít, đó là Xtalin (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô), Rudơven (Tổng thống Mĩ) và Sớcsin (Thủ tướng Anh).

b. Nội dung của hội nghị:

  • Xác định mục tiêu quan trọng là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật, nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật ở châu Á.
  • Thành lập tổ chức Liên hiệp quốc để duy trì hòa bình, an ninh thế giới
  • Thỏa thuận việc đóng quân, giáp quân đội phát xít và phân chia phạm vi ảnh hưởng của các cường quốc thắng trận ở châu Âu và Á
    • Ở châu Âu: Liên Xô chiếm Đông Đức, Đông Âu; Mỹ, Anh, Pháp chiếm Tây Đức, Tây Âu.
    • Ở châu Á:
      • Vùng ảnh hưởng của Liên Xô: Mông Cổ, Bắc Triều Tiên, Nam Xakhalin, 4 đảo thuộc quần đảo Curin;
      • Vùng ảnh hưởng của Mỹ và các nước tư bản phương Tây: Nhật Bản, Nam Triều Tiên; Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á … 

c. Ý nghĩa : Những quyết định của hội nghị Ianta về cơ bản đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Vì vậy, tên của Hội nghị còn được dùng để chỉ trật tự thế giới được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai – “Trật tự hai cực Ianta”.

Câu 13:   Phân tích hệ quả của những quyết định quan trọng tại Hội nghị cấp cao Ianta.

  • Việc giải quyết vấn đề các nước phát xít và khu vực phát xít chiếm đóng, thành lập tổ chức Liên hợp quốc và phân chia phạm vi ảnh hưởng của các nước thắng trận tại Hội nghị Ianta đã tạo ra khuôn khổ của một trật tự thế giới mới, hoàn toàn khác trước (không còn hoàn toàn bị chủ nghĩa đế quốc chi phối, mà đã có sự tham gia tích cực của các lực lượng dân chủ đứng đầu là Liên Xô và việc giải quyết các vấn đề an ninh thế giới dựa trên cơ chế an ninh tập thể thông qua Liên hợp quốc…)
  • Khuôn khổ trật tự thế giới này chịu sự chi phối sâu sắc của hai siêu cường Mĩ và Liên Xô.
  • Thế giới phân thành hai cực, hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa → hiện tượng đầu tiên trong Lịch sử thế giới. Quan hệ thù địch Mĩ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa…
  • Những biến đổi to lớn và sự sụp đổ của chế độ chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô những năm 1989 – 1991 đã dẫn tới việc chấm dứt “Trật tự thế giới hai cực Ianta” và một trật tự thế giới mới đang hình thành

Câu 14: Hãy cho biết sự thành lập, mục đích, nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức và vai trò của Liên Hợp Quốc

* Sự thành lập

– Từ 25/4 -> 26/6/1945, HN quốc tế họp tại Xan Phranxixcô (Mỹ) với sự tham gia 50 nước đã thông qua Bản Hiến chương và tuyên bố thành lập LHQ

* Mục đích

– Duy trì hòa bình và an ninh thế giới

– Phát triển các mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các QG trên thế giới

* Nguyên tắc hoạt động: (5 nguyên tắc)

– Bình đẳng chủ quyền giữa các nước

– Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước

– Không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kỳ nước nào

– Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình

– Chung sống hòa bình và sự nhất trí giữa 5 nước lớn (LX, M, A, P, TQ)

* Cơ cấu tổ chức LHQ

– Gồm 6 cơ quan: Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh tế xã hội, Hội đồng quản thác, Tòa án quốc tế và Ban thư ký

– Đại hội đồng: gồm tất cả các thành viên, mỗi năm họp 1 lần

– Hội đồng Bảo an: cơ quan hoạt động thường xuyên quan trọng nhất, giữ gìn hòa bình an ninh thế giới Mọi quyết định của cơ quan này phải được sự nhất trí của 5 cường quốc

– Ban thư ký: cơ quan hành chính của LHQ, đứng đầu là Tổng thư kí

*Vai trò LHQ

– Giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới

– Giải quyết các vụ tranh chấp và xung đột nhiều khu vực

– Thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế

– Giúp đỡ các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế…

* 1977, VN là thành viên 149 của LHQ

* 2007 VN được bầu làm ủy viên không thường trực HĐBA LHQ

Phần 1: Ôn tập Những vấn đề cơ bản của lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1917 đến 1945 (Phần 1) – Lịch sử 12

Những chuyên mục hay của Lịch sử lớp 12:

Bài viết liên quan